34. Sớ Chồng Cúng Vợ Con Cúng Mẹ

(Bách Niên Mộng Huyễn)

 

Nguyên văn:

 

伏以

百年夢幻、嗟塵世之循環、十號雄尊、遏眞乘而濟度、今陳情訴、仰叩金容。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉

修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干

大覺能仁、俯垂炤鑒。竊念、勤儉克家、溫涼睦族、藹然和氣、襟懷德澤郷鄰、翕爾賢能、仁愛慈霑子弟、夫妻義重、爲期偕偶百年、母子恩深、豈意分離一旦、夫思妻而莫覩、子憶母以難尋、家中寂聽音聲、堂上無聞影響、尊親失仰、族黨無依、一郷遠近咸恩、二姓尊卑幷憶、施恩布德、使窮困而有週、敎子事夫、處閨門而可法、欲酬結髪、須竭眞心、仗佛慈而濟度超昇、承法力而追思冥福。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏

南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。

南無接引導師阿彌陀佛作大證明。

南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。

南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、三毒冰消、得十善而徃生九品、五陰漏盡、淨六根而早証三乘、長伴仙宮、永居聖果、九玄七祖、承茲善利以霑恩、八難三途、共入毘盧之性海。仰賴

佛恩證明之不可思議也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Bách niên huyễn mộng, ta trần thế chi tuần hoàn; Thập Hiệu hùng tôn, át chơn thừa nhi tế độ; kim trần tình tố, ngưỡng khấu kim dung. Sớ vị:

Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng

Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

Thiết niệm: Cần kiệm khắc gia, ôn lương mục tộc; ái nhiên hòa khí, khâm hoài đức trạch hương lân; hấp nhĩ hiền năng, nhân ái từ triêm tử đệ; phu thê nghĩa trọng, vi kỳ giai ngẫu bách niên; mẫu tử ân thâm, khởi ý phân ly nhất đán; phu tư thê nhi mạc đỗ, tử ức mẫu dĩ nan tầm; gia trung tịch thính âm thanh, đường thượng vô văn ảnh hưởng; tôn thân thất ngưỡng, tộc đảng vô y; nhất hương viễn cận hàm tư, nhị tánh tôn ty tinh ức; thi ân bố đức, sử cùng khốn nhi hữu chu; giáo tử sự phu, xử khuê môn1 nhi khả pháp; dục thù kết phát, tu kiệt chân tâm; trượng Phật từ nhi tế độ siêu thăng, thừa pháp lực nhi truy tư minh phước. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu:

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.

Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.

Phục nguyện: Tam Độc2 băng tiêu, đắc Thập Thiện3 nhi vãng sanh Cửu Phẩm; Ngũ Ấm4 lậu tận, tịnh Lục Căn nhi tảo chứng Tam Thừa; trường bạn Tiên Cung, vĩnh cư Thánh quả; Cửu Huyền Thất Tổ, thừa tư thiện lợi dĩ triêm ân; Bát Nạn Tam Đồ, cọng nhập Tỳ Lô chi tánh hải. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

  1. năm mộng huyễn, than trần thế mãi xoay vần; Mười Hiệu hùng tôn, đem chơn thừa mà cứu độ; nay bày tấc dạ, ngưỡng lạy dung vàng.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ... Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Nép nghĩ: Cần kiệm gia môn, mát tươi dòng tộc; vui vẻ hòa khí, hoài mang đức nhuận xóm làng; hợp thuận hiền lương, nhân ái thương trùm con cháu; vợ chồng nghĩa nặng, chỉ mong đôi lứa trăn năm; mẹ con ơn nặng, sao đành phân chia một sớm; chồng nhớ vợ nào chẳng thấy, con trông mẹ biết đâu tìm; trong nhà vẳng vẻ âm thanh, trên phòng chẳng nghe bóng dáng; người thân mất dạng, dòng tộc đâu nương; một làng xa gần đều thương, hai họ lớn nhỏ thảy nhớ; ban ơn rãi đức, khiến cùng khốn được nhờ; dạy con thờ chồng, khiến gia đình được yên ổn; muốn đền ơn cả, nên bày chơn tâm; nương Phật từ mà cứu độ siêu thăng, nhờ pháp lực mà cầu siêu phước quả. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:

Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.

Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.

Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.

Lại nguyện: Ba Độc trừ tiêu, đạt Mười Thiện mà vãng sanh Chín Phẩm; Năm Ấm lậu hết, sạch Sáu Căn mà sớm chứng Ba Thừa; thường bạn Tiên Cung, mãi sống cõi Thánh; Cửu Huyền Thất Tổ, nhờ nương thiện lợi được thấm ơn; Tám Nạn Ba Đường, đều nhập Tỳ Lô trong biển tánh. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Khuê môn (閨門): cửa đi vào phòng ngủ, phòng ngủ. Bên cạnh đó, khuê môn còn có nghĩa là nơi ở của người nữ; hơn nữa, theo quan niệm ngày xưa, người nữ đảm đang lo mọi việc nội trợ trong nhà; nên người Nhật gọi bà chủ nhà, người vợ trong nhà là gia nội (家內, kanai); từ đó, khuê môn cũng có nghĩa là việc gia đình. Như trong Ngọc Hoàng Phổ Độ Thánh Kinh (玉皇普度聖經) của Đạo Giáo có câu: “Nhân cư ư thiên địa chi gian, bẩm thiên địa âm dương chi khí, khuê môn vi vạn hóa chi nguyên, khôn hậu tải vô cương chi phước (人居於天地之間、稟天地陰陽之氣、閨門為萬化之源、坤厚載無疆之福, người sống nơi khoảng giữa đất trời, nhờ trời đất âm dương khí chất, gia đình là nguồn gốc của vạn hóa, đất dày chở vô cùng phước đức).” Hay trong Bắc Sử (北史) quyển 84, Liệt Truyện (列傳) thứ 72, phần Hiếu Hạnh (孝行) có đoạn: “Hựu Đông Quận Tiểu Hoàng Huyện nhân Đổng Thổ Hồn, huynh dưỡng, sự thân chí hiếu, tam thế đồng cư, khuê môn hữu lễ (又東郡小黃縣人董吐渾兄養事親至孝三世同居閨門有禮, lại có Đổng Thổ Hồn, người Huyện Tiểu Hoàng, Đông Quận, nuôi anh, rất có hiếu với song thân, ba đời cùng chung sống, trong gia đình có lễ nghĩa).”
  2. Tam Độc (三毒): còn gọi là Tam Hỏa (三火), Tam Cấu (三垢), Tam Bất Thiện Căn (三不善根); ba độc, ba loại phiền não, gồm Tham Dục (貪欲), Sân Nhuế (瞋恚) và Ngu Si (愚癡); hay Tham, Sân, Si; Dâm (), Nộ (), Si (); Dục (), Sân (), Vô Minh (無明). Hết thảy phiền não đều được gọi là độc; ba loại phiền não nầy thông nhiếp cả Ba Cõi, làm độc hại thiện tâm của chúng sanh; có thể khiến cho chúng hữu tình vĩnh kiếp chịu khổ, không thể nào lìa ra khỏi được. Ba Độc nầy là căn nguyên các việc làm ác của thân, miệng và ý. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 34 phân ba độc thành Chánh Tam Độc (三毒, tức Tham Dục, Sân Nhuế, Ngu Si) và Tà Tam Độc (三毒, tức Tà Tham Dục, Tà Sân Nhuế, Tà Kiến Ngu Si). Đối với Tà Tam Độc thì khó độ, Chánh Tam Độc thì dễ độ; cho nên cõi Tịnh Độ của chư Phật chỉ có Chánh Tam Độc mà thôi. Theo Đại Tạng Pháp Số (大藏法數) quyển 15, hàng Nhị Thừa, Bồ Tát đều có Ba Độc. Hàng Nhị Thừa vui mừng cầu Niết Bàn (s: nirvāa, p: nibbāna, 涅槃) là tham dục, chán ghét xa lìa sanh tử là sân nhuế, mê ở trong Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道) là ngu si. Hàng Bồ Tát muốn rộng cầu Phật pháp là tham dục, trách la hàng Nhị Thừa là sân nhuế, và chưa liễu đạt Phật tánh là ngu si. Như trong Đại Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có đoạn giải thích về Ba Độc rằng: “Vô Minh chi tâm, tuy hữu bát vạn tứ thiên phiền não tình dục, cập hằng hà sa chúng ác, giai nhân Tam Độc, dĩ vi căn bổn; kỳ Tam Độc giả, Tham Sân Si thị dã; thử Tam Độc tâm, tự năng cụ túc nhất thiết chư ác, do như đại thọ, căn tuy thị nhất, sở sanh chi diệp kỳ số vô biên (無明之心雖有八萬四千煩惱情欲河沙眾惡皆因三毒、以爲根本、其三毒者、貪癡是也、此三毒心、自能具足一切諸惡、猶如大樹、根雖是一、所生枝葉其數無邊, tâm Vô Minh, tuy có tám vạn bốn ngàn phiền não tình dục, và hằng hà sa số các điều ác, đều do Ba Độc, lấy làm căn bản; Ba Độc nầy chính là Tham Sân Si; tâm Ba Độc nầy, tự có thể đầy đủ hết thảy các điều ác, giống như cây lớn, gốc tuy là một, các cành lá của nó số lượng vô biên).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 12 có câu: “Thập Ác Ngũ Nghịch tất băng tiêu, Tam Độc Thất Tình câu tuyết hóa, Ngũ Lậu hóa vi vô lậu, Lục Căn biến tác thiện căn, trượng Nhất Thừa tiến điệu chi công, chỉ Cửu Phẩm vãng sanh chi lộ (十惡五逆悉冰消、三毒七情俱雪懺、五漏化爲無漏、六根變作善根、仗一乘薦悼之功指九品往生之路, Mười Ác Năm Nghịch thảy băng tiêu, Ba Độc Bảy Tình đều hóa giải, Năm Lậu hóa thành vô lậu, Sáu Căn biến nên thiện căn, nương Một Thừa dâng cúng công phu, chỉ Chín Phẩm vãng sanh về nẻo).”
  3. Thập Thiện (十善): hay Thập Thiện Nghiệp (s: daśakuśala-karmāni, 十善業), Thập Thiện Nghiệp Đạo (十善業道), Thập Thiện Đạo (十善道), Thập Thiện Căn Bản Nghiệp Đạo (十善根本業道), Thập Bạch Nghiệp Đạo (十白善道), tức là 10 việc làm tốt lành của thân, miệng và ý; gồm 3 nghiệp của thân là: (1) Không Sát Sanh, (2) Không Trộm Cắp, (3) Không Tà Dâm; 4 nghiệp của miệng là (1) Không Nói Dối, (2) Không Nói Lời Thêu Dệt, (3) Không Nói Lời Thô Ác, (4) Không Nói Hai Lưỡi; và 3 nghiệp của ý là (1) Không Tham Dục, (2) Không Sân Nhuế, (4) Không Tà Kiến. Mười điều trên được gọi là Thập Thiện Giới (十善戒). Những pháp hành nầy nhằm đối trị với 10 điều bất thiện, hay 10 nghiệp ác là (1) Sát Sanh, (2) Trộm Cắp, (3) Tà Dâm, (4) Nói Dối, (5) Nói Lời Thêu Dệt, (6) Nói Lời Thô Ác, (7) Nói Hai Lưỡi, (8) Tham Dục, (9) Sân Nhuế, (10) Tà Kiến. Trong Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh (十善業道經, Taishō No. 600, 1 quyển) do Thật Xoa Nan Đà (s: Śikānanda, 實叉難陀, 652-710) nhà Đường dịch, giải thích rất rõ và chi tiết về công đức hành trì từng nghiệp một của Thập Thiện; tỷ dụ như xa lìa việc sát sanh thì sẽ được thành tựu 10 pháp xa lìa phiền não: “Long Vương, nhược ly sát sanh, tức đắc thành tựu Thập Ly Não Pháp. Hà đẳng vi thập ? Nhất ư chư chúng sanh phổ thí vô úy, nhị thường ư chúng sanh khởi đại bi tâm, tam vĩnh đoạn nhất thiết sân nhuế tập khí, tứ thân thường vô bệnh, ngũ thọ mạng trường viễn, lục hằng vi phi nhân chi sở thủ hộ, thất thường vô ác mộng tẩm giac khoái lạc, bát diệt trừ oán kết tự giải, cửu vô ác đạo bố, thập mạng chung sanh thiên (龍王若離殺生得成就十離惱法何等一於諸眾生普施無畏二常於眾生起大慈心三永斷一切瞋恚習氣四身常無病五壽命長遠非人之所守護七常無惡夢寢覺快樂八滅除怨結眾怨自解無惡道怖十命終生天, Long Vương, nếu xa lìa sát sanh, tức đạt được Mười Pháp Lìa Phiền Não. Thế nào là mười ? Một là ban khắp sự không sợ hãi cho các chúng sanh; hai là thường khởi tâm từ bi lớn đối với chúng sanh; ba là mãi đoạn tất cả tập khí sân nhuế; bốn là thân thường không bệnh; năm là thọ mạng dài lâu; sáu là thường được hàng phi nhân bảo hộ; bảy là ngũ thường không có ác mộng, tỉnh thức khoái lạc; tám là diệt trừ mọi oan kết, các oan khiên tự giải mở; chín là không sợ hãi trong đường ác, mười là khi mạng hết được sanh lên Trời).” Hay như trong Phật Thuyết Tín Giải Trí Lực Kinh (佛說信解智力經, Taishō No. 802) có đoạn: “Hựu phục chúng sanh, dĩ thân khẩu ý hành Thập Thiện Nghiệp, bất báng hiền thánh, khởi ư Chánh Kiến, tác chư thiện nghiệp, hành chư thiện pháp, giai thị chánh nhân sở khởi, do thử Chánh Kiến nhân duyên cố, mạng chung chi hậu, sanh ư thiên giới (又復眾生以身口意行十善業不謗賢聖、起於正見、作諸善業、行諸善法、皆是正因所起、由此正見因緣故命終之後生於天界, lại có chúng sanh, lấy thân miệng ý hành Mười Nghiệp Thiện, không phỉ báng hiền thánh, khởi lên Chánh Kiến, làm các nghiệp thiện, hành các pháp thiện, đều là do khởi lên nhân đúng, do nhân duyên Chánh Kiến nầy, sau khi mạng hết, sanh lên cõi Trời).”
  4. Ngũ Ấm (五陰): tức Ngũ Uẩn (五蘊), xem chú thích Ngũ Uẩn bên dưới.